Hoàng Hữu Thanh

Hoàng Hữu Thanh
Thời lửa đạn
Hồi ký
Nhà Xuất bản Thuận Hóa Huế 2013
Lời nói đầu
Hàng năm cứ đến ngày mùng một tháng chạp là ngày tảo mộ Đức Thành hoàng bản thổ làng Minh Lệ – Trương Hy Trọng. Một vị tướng thời Lê sơ – Hậu Lê, vâng mệnh triều đình mang gươm đi mở cõi. Ngày ấy con cháu khắp mọi miền Tổ quốc kéo nhau tìm về quê hương xứ sở. Họ thắp hương cho ông bà, tổ tiên. Họ tìm lại nhau, một thời xa vắng.
Năm 2003, quê nhà chuẩn bị đón Huân chương Anh hùng lực lượng vũ trang nên con cháu về đông và vui hơn. Sáu giờ sáng, dòng người từ các ngả đường lũ lượt kéo đến sân đình. Họ gặp nhau tay bắt mặt mừng. Có người rưng rưng rơi nước mắt sau năm mươi năm xa cách gặp lại lần đầu. Họ bỡ ngỡ nhận nhau, rồi ôm nhau thắm thiết. Những kỉ niệm vui buồn của một thời tuổi trẻ, những kí ức về làng quê yêu dấu cứ hiển hiện ùa về. Đã hơn nửa thế kỉ rồi, một thời họ đã sống, chiến đấu bên nhau. Hai cuộc kháng chiến thần kì của dân tộc đã cuốn hút lấy mỗi con người. Nay ai nấy đầu tóc bạc phơ, mỗi người có một nỗi niềm, một danh phận riêng nhưng họ vẫn cứ hồn nhiên như ngày nào. Họ lôi cả tên cúng cơm của nhau ra để gọi. Họ kể lại những đêm sáng trăng tập võ, tập đánh trận giả, những trận đặt bom, cài mìn đánh địch ở động Lòi, những trận chống càn, và cả những hi sinh mất mát.
Hoàng Đăng Các – nguyên một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, một tiểu đoàn trưởng thời chống Mĩ, về hưu ở nông trường Việt Trung đề nghị: “Chúng mình là những đội viên thiếu niên du kích làng Minh Lệ. Chiến công của chúng mình có kém gì đội thiếu niên du kích Đình Bảng đâu. Tôi đề nghị anh Hoàng Hữu Thanh nguyên là đại đội trưởng đại đội thiếu niên du kích làng Minh Lệ viết lại. Phải để cho con cháu chúng ta biết, trong kháng chiến chống Pháp, làng Minh Lệ đã có một đại đội thiếu niên du kích anh dũng như thế nào, đã từng làm cho quân thù thất điên bát đảo. Đội quân đó đã cùng lực lượng bộ đội, du kích người lớn đánh giặc bảo vệ xóm làng”.
Anh Hoàng Hữu Ban, một cán bộ cao cấp đang nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh đồng tình: “Phải đó! Lớp già chúng mình mà chết đi, con cháu chúng ta không ai biết được truyền thống cha anh mình đã đánh giặc như thế nào thì chúng ta là người có tội. Tôi đề nghị anh Hoàng Hữu Thanh chấp bút viết về cả làng quê Minh Lệ – một thời lửa đạn”. Thầy giáo Nguyễn Quế – một giáo viên đang nghỉ hưu nơi xóm Bắc nói: “Anh Thanh cứ viết đi! Có gì đó thì em giúp sức với”. Và tôi rất e dè khi phải gánh vác trọng trách lớn lao này, nhưng quỹ thời gian của chúng tôi không còn nhiều nữa. Những nhân vật, sự kiện cũng quá lâu rồi. Nay kẻ mất người còn, kẻ nhớ người quên. Tôi không có tham vọng là viết được hết cả làng Minh Lệ. Nhưng nhớ đến đâu tôi xin viết đến nấy. Những hiểu biết về Tây – Bắc Minh Lệ nhiều hơn nơi khác. Chắc chắn sự suy nghĩ và nhớ lại không thể tránh khỏi thiếu sót, mong bạn đọc biết thì bổ sung thêm.
Chương 1
Vài nét sơ lược về làng Minh Lệ .
Theo đường sắt Bắc Nam, bước xuống ga Minh Lệ là đúng ngay chính giữa xóm Ga, thôn Tây – một xóm mới của làng Minh Lệ. Bạn cũng có thể đi theo đường Quốc lộ 1A, gặp đường 12A, qua thị trấn Ba Đồn, sang cầu Quảng Hải đến giếng Bàu Quảng Hòa, rẽ trái tiếp 500 m là đến đầu thôn Bắc.
Không biết tự bao giờ làng tôi mang cái tên “Minh Lệ”. Nay nhiều người trong làng phân vân: “Minh Lệ” hay là “Minh Lễ”. Nhưng chắc chắn tên làng có từ lâu trước khi xây dựng đình Minh Lệ năm 1464.
Căn cứ vào hai câu đối ở đình làng Minh Lệ “Tự sự Khổng Minh- Gia hội hợp lễ”. Hay hai câu “Xa thư cộng đạo văn minh xiển- Hương hỏa thiên thu điển lễ tồn”, cố nhà giáo Hoàng Hữu Sam nói tên làng Minh Lệ được ghép bằng hai chữ Minh và Lễ. Chữ Lễ ở đây là lễ nghĩa, phép tắc. Làng có văn minh, lễ nghĩa. Một cái tên thật hay, thật sang và cũng thật đậm chất nhân văn.
Minh Lệ: Minh là sáng, là minh bạch không mập mờ đổi trắng thay đen. Lệ là đẹp, đẹp lộng lẫy, quý phái như chính cha ông mình ngàn đời đã sống. Minh Lệ hay Minh Lễ đều là phép đặt tên. Tên nào cũng đẹp, tên nào cũng sang như chính những con người ở vùng đất này. Cha ông ta quen gọi Minh Lệ lâu rồi, nên cũng đừng tranh cãi nhiều nữa.
Trở lại với mảnh đất làng Minh Lệ. Mảnh đất này chắc chắn đã có người ở trên hai ngàn năm. Nghĩa là cùng thời với làng Thọ Linh, huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh (sau này gọi là Linh Giang). Thời kì đó dân tộc ta bị bọn phong kiến phương Bắc cai trị. Trước năm 1306, Minh Lệ một thời thuộc về Chiêm Thành. Cha ông ta đã phải hy sinh gian khổ chống Bắc, định Chiêm mới hình thành nên giang sơn ngày nay.
Theo “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, quyển 1 trang 167 thì năm Tân Sửu (1301), vua Trần Anh Tông sang thăm Chiêm Thành có ước gả Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân để nối tình hòa hiếu giữa hai dân tộc. Ngay từ thuở xa xưa cha ông chúng ta đã khao khát cuộc sống hòa bình, thân thiện.
Năm Bính Ngọ (1306), vua Chế Mân cho người đem vàng bạc, châu báu quý giá làm lễ vật sang triều cống, xin cưới Huyền Trân công chúa. Trong triều đình nhà Trần có người không chấp thuận nên vua Chế Mân tự nguyện dâng hiến hai châu Ô, Lý làm sính lễ cầu thân. Hai câu: “Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm/ Một gái thuyền quyên được mấy mươi” thời ấy đã nói lên điều đó.
Năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tông thâu nhận hai châu Ô, Lý đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu. Trần Anh Tông thiết lập nền hành chính và bộ máy quân sự từ Hoành Sơn Quan đến sông Thu Bồn (Quảng Nam), phân chia thành hai phủ Tân Bình và Triệu Phong. Phủ Tân Bình chạy từ đỉnh Đèo Ngang đến Cửa Tùng, được phân bố thành một châu và ba huyện. Châu Bố Chính gồm các huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch và Bố Trạch ngày nay. Các huyện còn lại là Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh tức Ma Linh cũ (Vĩnh Linh).
Châu Bố Chính ôm trọn sông Thủy Vực (Ròn) và lưu vực sông Linh Giang (sông Gianh). Châu Bố Chính gồm 68 xã. Xã Thị Lệ được giữ nguyên cho đến nhiều triều đại sau. Cho đến trước ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), xã Thị Lệ thuộc tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, là một xã gồm có 5 thôn nên người ta thường nói “Nhất xã ngũ thôn”. Thôn Đoài (Diên Trường – Quảng Sơn), Minh Lệ (Quảng Minh), Vĩnh Ninh (Hòa Ninh- Quảng Hòa), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc).
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tiếp đến cuộc kháng chiến trường kì 9 năm của dân tộc ta chống thực dân Pháp, một tổ chức hành chính mới được thiết lập đã sát nhập ba xã Quảng Minh, Quảng Sơn, Quảng Thủy (ngày nay) thành một xã mới gọi là Minh Trạch.
Năm 1954, hòa bình lập lại. Làng Minh Lệ được chia thành các chòm: Trần Phú, Hòa Bình, Hạnh Phúc, Minh Tân, Minh Hòa, Minh Bình, Đồng Tâm, Hiệp Lực, Cộng Hòa. Qua các lần nhập tỉnh, nhập huyện rồi tách ra, ba xã vẫn giữ nguyên tên như ngày nay. Xã Quảng Minh cũng có nhiều thay đổi về cơ cấu, tổ chức sản xuất, các hợp tác xã nhập lại rồi tách (Minh Lệ, Minh Khai rồi lại Minh Lệ…). Tên xóm, tên chòm cũng có nhiều sửa đổi. Có người nói “Quảng Minh có đến ba cồn, chín xóm”. Các làng bờ Bắc sông Nan là Minh Lệ, Thái Hòa, Cồn Vượn (Minh Trường). Cồn Vượn và Thái Hòa mới hình thành sau này. Đặc biệt Thái Hòa là khu dân cư dành riêng cho người dân đi Thái Lan về sau ngày hòa bình lập lại, lúc đó miền Bắc đang xây dựng tổ đổi công rồi hợp tác hóa nông nghiệp. Bên kia sông là Minh Tiến, Cồn Nâm, Tân Định, Nội Hà, Hà Bồng, Giáp Tam …vv .
*
* *
Cha tôi tên là Hoàng Khắc Đoài. Ngày còn sống, ông là một người thầy dạy chữ Hán nổi tiếng trong làng. Ông hiểu biết rất rộng, sách vở chữ Nôm, chữ Hán đọc làu làu. Nhiều người quanh vùng thường gọi là thầy Suế hay cố Chề. Suế là tên con đầu. Anh Hoàng Văn Suế của tôi đã mất trước Cách mạng Tháng Tám. Anh Suế lấy chị Duê con ông Hoàng Đăng Thạ, sinh được một cháu gái, cháu bị sài lặn vào mà chết. Con chết, anh buồn bực rồi sinh bệnh mà chết. Chề là tên đứa cháu ngoại đầu – con của chị Suề, người con thứ hai. Ông nói Tây – Bắc làng Minh Lệ là đất Kim quy. Đầu rùa là xóm Tây, thân rùa là xóm Bắc. Xóm Bắc Minh Lệ ngày nay chính là vùng đất “Hạ Yên Trạch”. Hạ Yên Trạch tương truyền là nơi ngã ngựa của Trung lang Thượng tướng quân Trương Đức Trọng (vì kiêng tên húy nên gọi chệch sang tên Trương Hy Trọng). Ông đã đọc gia phả dòng họ Trương, làng Minh Lệ dịch ra tiếng Việt cho con cháu nghe. Cuốn gia phả đó do ông Trương Dình, trưởng tộc họ Trương, hậu duệ đời thứ 16 của Trương Hy Trọng lưu giữ được đến ngày hòa bình. Gia phả đựng trong một cái ống tre. Trong các cuộc tản cư hay chạy giặc, đi đâu ông Trương Dình cũng giữ kè kè bên mình cái ống. Tiếc rằng do chất lượng giấy thời đó quá xấu, thời gian lại quá dài nên nó tự phân hủy. (Nay cháu Trương Minh Đức, giáo viên về hưu, con cả của ông Trương Dình vẫn còn lưu giữ được sắc phong của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ truy phong cho Trương Hy Trọng là “Trung lang Thượng tướng quân” )
Cha tôi nói Trương Hy Trọng quê ở Hải Dương vào trấn giữ vùng đất Thuận Hóa giữa thế kỉ XV. Ông vâng mệnh vua Lê vào đây chinh phạt quân Lồi. Tên thật của ông là Trương Công Chấn, hậu duệ đời thứ 6 của Trương Công Án. (Trương Công Án làm quan Tham lang Tướng dưới trướng phủ Tể tướng Trần Nguyên Hãn – đời Trần). Ông đã di dân lập ấp dựng lên xóm làng. Bốn họ Trương, Nguyễn, Hoàng, Trần lấy vùng đất Hạ Yên Trạch làm nơi kết nghĩa anh em. Trương Hy Trọng là người nhỏ tuổi nhất nhưng lại là người có tài cao, chí lớn, văn võ song toàn. Ông là người có chức tước cao nhất trong bốn anh em. Đời sau, vua Quang Trung năm thứ hai đã cấp sắc truy phong cho ông là “Trung lang Thượng tướng quân” về công lao “Bình Lồi thiết xã”. Vua phong cho ông làm Thành hoàng làng. Bốn anh em kết nghĩa trên đất Hạ Yên Trạch, là thủy tổ của bốn dòng họ có nhà thờ cùng lăng mộ được trùng tu, thờ cúng quanh năm.
Năm 1992, đình làng được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa và cấp 900 triệu đồng cho trùng tu lại. Bài vị của bốn anh em (Tứ đức thần tổ) được rước vào đình làng Minh Lệ. Hoàng Công Lục thủy tổ họ Hoàng là người lớn tuổi nhất.
Theo cuốn sách viết bằng chữ Hán cha tôi để lại, hôm rước bằng công nhận đình làng Minh Lệ là Di tích lịch sử – văn hóa, anh Hoàng Văn Suyết của tôi dịch cho anh Nguyễn Nghiền ghi lại bằng chữ Quốc ngữ thì trước đây Thị Lệ “Nhất xã ngũ thôn” theo Phật giáo cùng sinh hoạt tại đình Minh Lệ. Đình là nơi “Xuân thu nhị kì” năm thôn hội họp bàn việc thờ cúng an dân. Về sau Hòa Ninh, Vĩnh Lộc xin lập đình riêng. Hai thôn Diên Trường, Vĩnh Phước theo Công giáo xây dựng nhà thờ. Vừa rồi đình làng được tu sửa lại lần thứ ba nhưng tôi thấy hàng rào phía ngoài làm bằng gỗ là không nên. Hàng rào gỗ đứng giữa trời bị mưa nắng không chóng thì chầy sẽ hỏng, trâu bò và trẻ con vào đùa nghịch nơi chốn linh thiêng. Cần phải trùng tu lại bằng tường đá để vừa trường tồn với thời gian lại vừa bảo tồn mặt di tích. Trong ngày tảo mộ làng các anh, các chị ở xa về và con cháu trong làng ta không vừa lòng với các câu đối bị người nào dùng vôi quét bừa lên. Đã thế một số câu đối, đặc biệt bia Di tích lịch sử – văn hóa thì chỉ ghi là lịch sử. Đình làng Minh Lệ trước đây lợp vọt, được xây bằng vôi và mật mía vào năm “Bảo Đại nhị niên”. Theo tôi nếu xây vào năm “Bảo Đại nhị niên” không phải năm 1923 mà phải là năm 1927. Vì ngày 6 tháng 1 năm 1925 khi vua cha Khải Định mất, Vĩnh Thụy về nước thọ tang cha. Ngày 8 tháng 1 năm 1926, Vĩnh Thụy kế vị lên ngôi vua lấy hiệu là Bảo Đại. Đình làng Minh Lệ, một di tích lịch sử – văn hóa xứng đáng là niềm tự hào không chỉ là của người dân Minh Lệ mà cả năm thôn. Chúng ta cần nghiêm túc trong việc trùng tu đình làng…

  • Published On : 10 months ago on August 26, 2017
  • Author By :
  • Last Updated : August 26, 2017 @ 3:12 am
  • In The Categories Of : Uncategorized

4 Comments

  1. Nam Hoangthanh says:

    Lục lại các bản xuất bản thời bình trị thiên có rất nhiều

  2. Nam Hoangthanh says:

    Bình trị thiên chỉ có nhà xuất bản thuận hoá là đầy đủ nhất

';